Hôm nay: 06/09/2010, 02:09
Tin mới: 
English

   Trang chủ

Phát triển kinh tế xã hội
Đ.tư trực tiếp nước ngoài
Đ.tư phát triển chính thức
Đầu tư trong nước
Đăng ký kinh doanh
Q.lý nhà nước về đấu thầu
Thẩm định và giám sát ĐT
Hội nhập kinh tế quốc tế
Phát triển bền vững
Các đơn vị trực thuộc
Thủ tục hành chính
Thi đua khen thưởng
Văn bản Sở ban hành
Thông tin liên quan khác
Một số văn bản TW


 

Văn bản QPPL
UBND tỉnh
Bộ Kế hoạch - Đầu tư
Dành cho thành viên

Tên

Mật khẩu

Nhớ mật khẩu

Quên mật khẩu
Tình hình thực hiện phát triển kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2009 In E-mail

1. Kinh tế duy trì ở mức tăng trưởng trên 11,2% trong điều kiện nhiều khó khăn do tình hình suy giảm.
Tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn 6 tháng ước thực hiện 4.142 tỷ đồng (giá cố định 94) bằng 50,4% kế hoạch năm, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm 2008. Trong đó khu vực nông, lâm ngư nghiệp tăng gần 4,3%; công nghiệp và xây dựng tăng 15,1%; khu vực dịch vụ tăng 11,2%.
1.1 Giá trị Sản xuất công nghiệp &TTCN tăng trưởng 18%, đây là mức tăng thấp so với những năm trở lại đây.
Giá trị ngành công nghiệp 6 tháng thực hiện 3.595 tỷ đồng, bằng 43% kế hoạch năm, tăng trên 18% so với cùng kỳ.
Sản xuất công nghiệp đang có những dấu hiệu chuyển biến tích cực, Một số doanh nghiệp đã tìm kiếm và ký kết được hợp đồng; tuyển mới và nhận trở lại công nhân do cắt giảm trước đây; tăng qui mô đầu tư mở rộng sản xuất thông qua chương trình kích cầu của Chính phủ. Tuy nhiên do tình hình suy giảm kinh tế còn diễn liến phức tạp, khó lường nên giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp dự kiến năm 2009 duy trì ở mức tăng trưởng 18,5% (kế hoạch tăng 26,5%).
1.2. Giá cả các ngành dịch vụ tăng 12,5%; du lịch, thương mại, xuất nhập khẩu có nhiều cố gắng.
Nhiều chương trình miễn, giảm thuế, phí kết hợp với các hoạt động lễ hội văn hóa – du lịch; lễ hội hành trình di sản năm 2009 diễn ra trên địa bàn đã thu hút và duy trì lượng khách du lịch. Tổng lượt khách tham quan, lưu trú gần 1.160 ngàn lượt. Trong đó khách quốc tế 580 ngàn lượt, bằng với cùng kỳ năm trước, khách nội địa tăng 13%. Doanh thu khách sạn, nhà hàng trên 1.280 tỷ đồng.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trên 5.255 tỷ đồng, tăng 25,5%. Khối lượng hàng hóa thông qua cảng 159 ngàn tấn, giảm trên 28% so với cùng kỳ. Tổng doanh thu trên  225 tỷ đồng.
Tổng kim ngạch xuất khẩu 108,5 triệu USD, bằng 37% kế hoạch, giảm 7,5% so với cùng kỳ năm 2008. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm gỗ, giầy dép, may mặc, thủy sản, nguyên liệu giấy.
Nhập khẩu 141 triệu USD, giảm 30%. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là phụ liệu may mặc, giầy, thuốc tân dược. Riêng linh kiện ô tô nhập khẩu giảm mạnh, 6 tháng thực hiện 54 triệu USD, giảm hơn 37% so với cùng kỳ.  
1.3. Sản xuất nông nghiệp gặp nhiều yếu tố không thuận lợi về thời tiết ở đầu vụ, nhưng vụ Đông Xuân năm nay được mùa.
Giá trị sản xuất ngành nông lâm ngư nghiệp trên 1.479 tỷ đồng, tăng 8,2% so với cùng kỳ. Trong đó nông nghiệp trên 996 tỷ đồng, tăng trên 8%; lâm nghiệp trên 117 tỷ đồng, giảm gần 4%; thủy sản trên 366 tỷ đồng, tăng trên 13,6%.
Vụ Đông Xuân năm nay, toàn tỉnh đã gieo cấy được 41.940 ha, tăng 1.160 ha so với vụ Đông Xuân năm trước. Năng suất bình quân 51,6 tạ/ha; tăng gần 9,3 tạ/ha. Sản lượng gần 216.600 tấn, tăng trên 43.800 tấn so với vụ Đông Xuân năm trước.
1.4. Về đầu tư và xây dựng.
UBND tỉnh đã tổ chức Hội nghị và nhiều cuộc họp về xây dựng cơ bản trong 6 tháng đầu năm, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị nhằm tăng cường chỉ đạo các ngành, địa phương, các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, đồng thời cho phép thanh toán 100% khối lượng hoàn thành nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn.
Các dự án quan trọng tại Khu Kinh tế mở Chu lai, từ công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân và tất toán đang được đẩy mạnh. Tập trung xử lý dứt điểm tất toán các dự án từ năm 2004 về trước, cũng như giải ngân kế hoạch vốn năm 2008 kéo dài. Tổng kinh phí đề nghị quyết toán gần 600 tỷ đồng. Đã giải ngân trên 35% kế hoạch vốn năm 2009. Chuẩn bị các thủ tục để xây dựng nhà ở cho công nhân theo chủ trương của Chính phủ; Đẩy nhanh tiến độ triển khai nạo vét luồng cảng từ phao số 0 đến đến cảng Kỳ Hà đáp ứng cho tàu 20.000 DTW hành thủy. Thúc đẩy phê duyệt qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Khu Kinh tế mở Chu lai đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020.
Một số công trình trọng điểm của tỉnh được tập trung chỉ đạo thực hiện tốt. Chặn dòng Hồ Đồng Tiển vượt tiến độ; tổ chức các cuộc họp thẩm định công trình cầu Cửa Đại; khởi công đường ĐT 611; khánh thành cầu Kỳ Phú... Tuy nhiên đến nay khối lượng thực hiện và giải ngân là thấp so với nguồn ngân sách năm 2009.
Các tổ chức tín dụng trên địa bàn đã huy động 6.200 tỷ đồng, tăng gần 36% so với cùng kỳ. Tổng dư nợ cho vay gần 12.000  tỷ đồng, tăng gần 21% so với cùng kỳ. Trong đó dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất theo Quyết định 131, 443 và 497 của Thủ tướng Chính phủ 3.425 tỷ đồng, chiếm trên 28% tổng dư nợ.
Đã tổ chức Hội thảo đánh giá chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh; Diễn đàn đối thoại doanh nghiệp. Những vấn đề doanh nghiệp quan tâm là chính sách về đất đai; phát triển nguồn nhân lực; kiến nghị có chính sách giải quyết thực hiện ưu đãi doanh nghiệp trước ngày 01/01/2006, sau khi Thủ tướng Chính phủ có Quyết định đình chỉ ưu đãi vượt trội.
Trong 6 tháng đã đăng ký cấp phép 350 doanh nghiệp trong nước, với tổng vốn đăng ký trên 1.000 tỷ đồng. Do tình hình suy giảm kinh tế thế giới, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa có sự chuyển biến tích cực, chỉ cấp 01 giấy phép đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đăng ký trên 80 ngàn USD.
Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ 15 ban hành Nghị Quyết về xây dựng và cải thiện môi trường đầu tư trên địa bàn tỉnh. Việc triển khai thực hiện Nghị Quyết nhằm huy động thêm các nguồn lực, ngăn chặn suy giảm kinh tế, thúc đẩy phát triển cần phải thực hiện đồng bộ từ việc tuyên truyền nâng cao nhận thức, đẩy mạnh cải cách hành chính, hoàn thiện các qui hoạch và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, giải quyết tốt công tác bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng, đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, cải thiện và nâng cao thứ hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.
1.5. Thu ngân sách đạt khá, đảm bảo cân đối các mục tiêu chi quan trọng.
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thực hiện 995 tỷ đồng, gần bằng 56% dự toán năm. Trong đó thu nội địa 790 tỷ đồng, bằng trên 67% dự toán năm. Thu xuất nhập khẩu 145 tỷ đồng, bằng 30% dự toán năm.
Tổng chi ngân sách địa phương thực hiện 2.063 tỷ đồng, bằng 56% dự toán chi. Trong đó chi đầu tư phát triển 855/1.106 tỷ đồng, bằng 70% kế hoạch đầu năm. Chi thường xuyên 1.191 tỷ đồng, bằng 53% dự toán. Chi trả nợ gốc vay quĩ hỗ trợ phát triển 17 tỷ đồng, bằng 63% dự toán.
1.6. Công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo lộ trình còn chậm và gặp nhiều khó khăn.
Theo lộ trình thực hiện sắp xếp, chuyển đổi, cổ phần hóa theo Quyết định số 1038/QĐ-TTg ngày 15/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ, Quảng Nam có 19 doanh nghiệp phải sắp xếp, chuyển đổi, cổ phần hóa giai đoạn 2007-2010. Tuy nhiên đến nay chưa có doanh nghiệp nào hoàn chỉnh phương án chuyển đổi, mới chỉ thực hiện được một số bước công việc như thành lập Ban Chỉ đạo chuyển đổi; tiến hành kiểm kê, xử lý tài chính; cơ cấu lại nợ; xác định thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa; hoàn chỉnh phương án chuyển đổi.
Nguyên nhân dẫn đến chậm trễ, chưa thực hiện sắp xếp, chuyển đổi, cổ phần hóa đúng tiến độ đó là: Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và tài chính của các doanh nghiệp có nhiều khó khăn, thua lỗ kéo dài, công tác kiểm tra, đối chiếu, phân loại  công nợ còn nhiều vướng mắc. Việc theo dõi, chỉ đạo, đôn đốc của Ban Chỉ đạo cổ phần hoá đối với từng doanh nghiệp chưa tập trung, quyết liệt. Tình trạng lạm phát tăng cao trong năm 2008 và suy giảm kinh tế hiện nay, giá các loại cổ phiếu trên thị trường chứng khoán có nhiều biến động, tác động rất lớn đến việc thực hiện cổ phần hóa của các doanh nghiệp.
2. Văn hoá xã hội tiếp tục được quan tâm, tích cực triển khai các giải pháp về đảm bảo an sinh xã hội.
UBND tỉnh đã chỉ đạo thực hiện nhiều chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ cho người nghèo, đồng bào dân tộc, các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, các đối tượng chính sách và những người bị mất việc làm do suy giảm kinh tế,... để giảm bớt khó khăn cho người dân và thúc đẩy sản xuất. Các hoạt động giáo dục đào tạo, văn hóa, thông tin và chăm sóc sức khỏe nhân dân đã khắc phục các khó khăn. Nhờ đó, tình hình chính trị xã hội giữ được ổn định, tạo được sự đồng thuận trong việc thực hiện chính sách.
Triển khai các hoạt động tuyên truyền và tổ chức thành công Lễ hội "Quảng Nam-hành trình di sản" lần thứ IV-2009. Nhiều hoạt động tuyên truyền kỷ niệm 34 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, 55 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và kỷ niệm 119 năm sinh nhật Bác. Bổ sung tiêu chí "Khu dân cư tiên tiến" trong trong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư". Tuyên dương Thôn - Khối phố văn hóa tiêu biểu xuất sắc giai đoạn 1999-2009
Tổ chức tốt kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2009 và tuyển sinh năm học 2009 – 2010. Năm học 2009 – 2010 có thêm 04 trường THPT mới thành lập tại Hội An, Thăng Bình, Hiệp Đức và Đông Giang. Toàn tỉnh có 13 huyện, thành phố với 215 xã đạt chuẩn phổ cập THCS bằng 89,5%, tăng hơn 10% so với năm học trước.
Trước tình hình dịch cúm A (H1N1) diễn biến phức tạp, UBND tỉnh đã thành lập ban chỉ đạo phòng chống cúm A (H1N1) của tỉnh. Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, đồng thời đôn đốc, chỉ đạo xây dựng và triển khai kế hoạch phòng chống dịch. Tăng cường các biện pháp kiểm soát và phát hiện sớm những trường hợp nghi ngờ, kịp thờ cách ly, điều trị theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
Hơn 15.300 lao động được giải quyết việc làm, bằng trên 40% kế hoạch, trong đó xuất khẩu 37 lao động. Thông qua nguồn vốn Quỹ quốc gia về việc làm, đã cho vay 360 dự án với số vốn gần 12 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho trên 1.000 lao động; tổ chức các lớp tập huấn về chính sách Bảo hiểm thất nghiệp; tập huấn nghiệp vụ điều tra thực trạng và nhu cầu sử dụng lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh năm 2009. Tổ chức các phiên giao dịch việc làm năm 2009 tại sàn giao dịch việc làm.
Đã thẩm định hoàn chỉnh thủ tục 851/1.316 hồ sơ người có công tồn đọng theo Kế hoạch số 611/KH-LĐTBXH ngày 03/3/2009 của Bộ LĐ-TB&XH. Xác nhận 2.235 trường hợp mới và giải quyết trợ cấp ưu đãi; kiểm tra trên 4.550 hồ sơ các đối tượng lập quyết định trợ cấp; trợ cấp ưu đãi 442 các trường hợp học sinh, sinh viên con của người có công; lập quyết định đối tượng điều dưỡng 3.872 trường hợp, nâng tổng số đối tượng đã được lập quyết định điều dưỡng đến nay lên 8.539 lượt người. Cấp 3.460 thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em.
Đến nay, toàn tỉnh có trên 917.770 thuê bao điện thoại, nâng mật độ điện thoại lên trên 60 máy/100 dân. Số thuê bao Internet hiện có 23.940 thuê bao, tỷ lệ sử dụng 6,4 thuê bao/100 dân.
3. Công tác phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi và 03 huyện nghèo của tỉnh tiếp tục được quan tâm, chỉ đạo thực hiện.
UBND tỉnh đã tổ chức Hội nghị về giao thông nông thôn, bàn các giải pháp nhằm phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn đến năm 2015 cơ bản hoàn thành xong gần 4.100 km đường giao thông nông thôn hiện đang là đường đất. UBND tỉnh đã vay 80 tỷ đồng, phân bổ cho các huyện, thành phố, cùng với ngân sách cấp huyện và đóng góp của nhân dân để thực hiện hơn 550 km đường giao thông nông thôn trong năm 2009. 
Đến nay đã hoàn thành 09 tuyến đường với tổng chiều dài 86Km trong tổng số 24 tuyến đường đến 29 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã. Tiếp tục thực hiện đầu tư các tuyến đường còn lại với tổng nguồn vốn bố trí năm 2009 là 289 tỷ đồng và 65 tỷ đồng của 05 công trình hồ chứa nước bằng nguồn vốn trái phiếu, Chính phủ. Tuy nhiên để hoàn thành các tuyến giao thông này cần phải bố trí 1.945 tỷ đồng, trong đó đã có tính phần chênh lệch giá (290 tỷ đồng). Mặt khác tiếp tục kiến nghị thêm 22 danh mục công trình mới đến các trung tâm xã chưa có đường ô tô đi trong cả hai mùa, mùa mưa và mùa khô.
Thực hiện tốt chương trình 135 giai đoạn 2; định canh định cư; Chương trình Nghị Quyết 39 và các chương trình mục tiêu khác. Ngoài các chương trình từ nguồn vốn đầu tư xâu dựng cơ bản và các chương trình mục tiêu, UBND tỉnh đã hỗ trợ chi thương xuyên cho các huyện miền núi theo các chương trình mục tiêu về y tế, giáo dục. Trong đó riêng chương trình hỗ trợ học sinh THCS người dân tộc theo Nghị Quyết HĐND và hỗ trợ học phẩm, học phẩm học sinh dân tộc nội trú theo Quyết định của Thủ tướng gần 21 tỷ đồng đã phân bổ đầu năm. Tuy nhiên nguồn vốn này đến nay, một số địa phương chưa thực hiện.
Xây dựng Đề án hỗ trợ hộ nghèo về nhà theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tượng bảo trợ xã hội năm 2009. Các ngành phối hợp hướng dẫn các huyện nghèo của tỉnh theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP hoàn chỉnh Đề án để triển khai thực hiện.
Toàn tỉnh còn 57 xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135 và 21 xã thuộc vùng khó khăn, bãi ngang ven biển. Do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế, tình trạng mất và thiếu việc làm gia tăng, cần phải tích cực các giải pháp cấp bách về đảm bảo an sinh xã hội, duy trì tăng trưởng kinh tế mới có thể tiếp tục giảm tỷ lệ hộ nghèo.
Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn có sự chuyển biến. Nông nghiệp triển với tốc độ khá. Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ và các ngành nghề. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường; bộ mặt nhiều vùng nông thôn thay đổi. Ðời sống vật chất và tinh thần của dân cư ở hầu hết các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện. Một số chương trình giảm nghèo được triển khai và bổ sung mới. Tuy nhiên, những kết quả trên chưa đồng đều giữa các vùng, giữa các huyện đồng bằng và miền núi. Nông nghiệp phát triển thiếu bền vững, sức cạnh tranh thấp; do tình hình dịch bệnh, cơ cấu chăm nuôi trong nông nghiệp có xu hướng giảm dần. Sản xuất chủ yếu vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh sản xuất hàng hóa. Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế.
 4. Công tác nội chính, quốc phòng - an ninh được đảm bảo, đối ngoại được tăng cường. Số vụ tai nạn giao thông còn ở mức cao.
Đã tổ chức thành công Hội nghị thường niên với đoàn đại biểu cấp cao tỉnh Sêkông của nước bạn Lào. Thảo luận vấn đề cắm mốc biên giới. Đồng thời tổ chức gặp gỡ các doanh nghiệp của Quảng Nam và Sêkông bàn về hợp tác đầu tư.
Đã tổ chức tốt Hội thao Quốc phòng toàn tỉnh. Chuẩn bị tốt các điều kiện cho công tác diễn tập, phòng thủ theo Nghị Quyết của Bộ Chính trị. Triển khai xây dựng kế hoạch đảm bảo kinh tế - xã hội chuyển địa phương từ thời bình sang thời chiến.
Công tác tiếp công dân tại các địa phương, đơn vị được duy trì thường xuyên. UBND tỉnh đã xử lý và giao cho các ngành chức năng thẩm tra, xác minh, tham mưu UBND tỉnh giải quyết theo qui định. Qua công tác tiếp công dân, đã hướng dẫn công dân gửi đơn đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết, hạn chế xảy ra tình trạng khiếu kiện đông người, khiếu nại vượt cấp.
Toàn tỉnh đã thực hiện 101/170 cuộc thanh tra kinh tế - xã hội, bằng gần 60% kế hoạch năm. Trong đó đã kết thúc 67 vụ. Đã tiếp nhận 1.467 đơn khiếu nại và 95 đơn tố cáo, tăng 4,4% về đơn khiếu nại và tăng trên 15% về đơn tố cáo so với cùng kỳ. Việc khiếu nại của nhân dân chủ yếu là công tác bồi thường, giải tỏa, tái định cư ở một số khu, cụm công nghiệp, khu du lịch, một số dự án thủy điện. Tố cáo tập trung ở các lĩnh vực tranh chấp đất đai, chế độ chính sách và quản lý ngân sách.
Đến 31/05/2009 trên  địa bàn tỉnh tai nạn giao thông đường bộ dã xảy ra 153 vụ, làm chết 114 người, bị thương 146 người; So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giao thông tăng 35 vụ, số người chết tăng 10 người và số người bị thương tăng 53 người.
Nhìn chung, tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm tăng trưởng phù hợp với thực tế của tỉnh và sự biến động của kinh tế thế giới. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá, nông nghiệp tăng trưởng cao, thu nội địa thực hiện tốt. Sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế nên có tốc độ tăng thấp; xuất khẩu giảm so với cùng kỳ. Các mặt xã hội được giữ vững, an ninh chính trị và trật tự an toàn được đảm bảo; công tác đối ngoại được tăng cường.
II. DỰ BÁO MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ CHỦ YẾU NĂM 2009
- Về sản xuất nông lâm ngư nghiệp: Nếu vụ Hè thu không có biến động bất thường, tình hình dịch bệnh được kiểm soát, không để tái phát; khai thác gỗ rừng trồng đạt khá, thủy sản tăng trưởng ổn định. Ước giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp 2.768 tỷ đồng, bằng 102,3% kế hoạch, tăng 5,0% so với năm 2008, vượt 1,2% so với chỉ tiêu đề ra.
- Về sản xuất công nghiệp: Do một số nhà máy qui mô lớn dự kiến đi vào hoạt động từ nay đến cuối năm như nhà máy Cồn, nhà máy kính nổi. Bên cạnh đó các doanh nghiệp sản xuất lớn khác như ô tô, gạch men, may mặc phục hồi tốc độ tăng trưởng; giá trị điện năng đóng góp thêm cho ngành công nghiệp, nên dự báo giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7.865 tỷ đồng, bằng trên 94% kế hoạch, tăng 18,5% so với năm 2008 (chỉ tiêu tăng 26,5%).
- Các ngành dịch vụ: Do nhiều chính sách kích cầu đầu tư và tiêu dùng; các chính sách giảm thuế, phí và nhiều hoạt động thu hút khách du lịch. Tuy nhiên có thể ảnh hưởng yếu tố giá cả tăng vào những tháng cuối năm. Dự báo giá trị sản xuất các ngành dịch vụ 6.917 tỷ đồng, bằng 97,3% kế hoạch, tăng trên 13,5% so với năm 2008 (chỉ tiêu tăng 16,7%).

- Tổng sản phẩn trên địa bàn (giá so sánh) ước 8.070 tỷ đồng, bằng 98% so với kế hoạch, tăng trên 11% so với năm 2008 (chỉ tiêu đề ra tăng 13%).

Nguyễn Hưng 

doannghiep.psd.gif
Dự án tăng cường năng lực
Hướng dẫn Đăng ký kinh doanh
Portal Quang Nam
logo quang cao 150[1].150.gif
Bài xem nhiều nhất

Giấy phép thiết lập Trang tin điện tử
Số 222/GP-BC do Cục báo chí (Bộ Văn hóa - Thông tin) cấp ngày 09/08/2006

Đơn vị thiết kế: QTI Powered by MOS
 
     Lượt truy cập thứ:332545  Có 11 khách đang online