|
Thực hiện Nghị quyết của HĐND về nhiệm vụ năm 2009 và Nghị quyết về nhiệm vụ, giải pháp thực hiện 6 tháng cuối năm. Trong điều kiện nhiều yếu tố tác động không thuận lợi đến phát triển chung, đồng thời bão số 9 và lũ, đã ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình sản xuất và dân sinh. Tình hình thực hiện chủ yếu ở một số lĩnh vực sau: 1. Về Kinh tế: 1.1 Sản xuất công nghiệp &TTCN tháng 10/2009 giảm hơn 10% so với tháng trước. Tính chung 10 tháng giá trị sản xuất công nghiệp và TTCN theo giá cố định trên 6.522 tỷ đồng, bằng trên 77% so với kế hoạch đầu năm, tăng 20% so với cùng kỳ 2008. Trong đó, kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn, trên 63% nhưng chỉ tăng trên 12%; kinh tế quốc doanh tăng 30%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng trên 39% Một số sản phẩm có giá trị tăng cao như sản xuất giầy và các sản phẩm từ da thực hiện trên 1.000 tỷ đồng, tăng trên 80%, tăng chủ yếu là ở Công ty sản xuất giầy xuất khẩu Rieker; sản xuất bàn ghế 215 tỷ đồng, tăng trên 50%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy 70 tỷ đồng, tăng gần 40%; dệt vải các loại 380 tỷ đồng, tăng gần 22%. Phần lớn các sản phẩm chủ yếu của công nghiệp đều tăng so với cùng kỳ, trong đó điện thương phẩm tăng gấp hơn 7 lần, chủ yếu là thủy điện A Vương; Gạch mem Đồng Tâm và Prime hơn 10,5 triệu m2, tăng 32%; thủy sản chế biến trên 10.000 tấn, tăng 11%. Sản phẩm ô tô lắp ráp các tháng đầu năm thực hiện thấp nhưng qua 10 tháng, lắp ráp gần 13.500 chiếc, xấp xỉ với cùng kỳ. 1.2. Về dịch vụ, du lịch, vận tải và xuất nhập khẩu: Tổng mức bán lẻ hàng hoá 10 tháng trên 9.000 tỷ đồng, tăng trên 23% so với cùng kỳ. Qua 10 tháng, tổng khách tham quan và lưu trú hơn 2.000.000 lượt, tăng hơn 13% so với cùng kỳ, lượt khách tăng chủ yếu là khách nội địa. Giá trị xuất khẩu tháng 10 thực hiện hơn 15,3 triệu USD. Qua 10 tháng, tổng kim ngạch xuất khẩu trên 179 triệu USD, bằng gần 61% kế hoạch đầu năm, giảm hơn 12% so với cùng kỳ năm 2008. Hầu hết xuất khẩu ở tất cả các thành phần kinh tế đều giảm, riêng kinh tế tư nhân trên 67 triệu USD, chiếm trên 37% tổng giá trị xuất khẩu, tăng gần 7% so với cùng kỳ. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có giá trị xuất khẩu cao nhất với hơn 83 triệu USD, chiếm trên 46% nhưng vẫn giảm hơn 10%. Nhập khẩu 10 tháng trên 268 triệu USD, giảm 22%. 1.3. Về sản xuất nông nghiệp. Tổng diện tích gieo trồng vụ mùa năm 2009 thực hiện trên 74.300 ha, tăng 1,5% so với vụ mùa năm 2008. Trong đó diện tích lúa vụ mùa gần 45.000 ha. Lúa vụ Hè thu phát triển ổn định nhưng trong giai đoạn chuẩn bị thu hoạch, do mưa lớn trên diện rộng kéo dài, gây ngập úng ở các khu vực trũng, thấp. Năng suất lúa bình quân 41,4 tạ/ha, giảm 3,6 tạ/ha so với kế hoạch và giảm 4,7 tạ/ha so với cùng vụ năm trước. Tuy vậy, vụ Đông Xuân được mùa, nên dự kiến tổng sản lượng lúa cả năm 2009 gần 403.000 tấn, tăng hơn 22.000 tấn so với năm 2008, vượt hơn 4% so với kế hoạch đề ra. Diện tích trồng rừng thực hiện trên 65% kế hoạch. Trong đó dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, trồng rừng phòng hộ KFW6, trồng rừng kinh tế WB3 thực hiện gần 2.300 ha. Diện tích trồng rừng tập trung trong nhân dân trên 3.200 ha. Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng 150.000 m3, bằng trên 60% kế hoạch và 82% so với năm 2008. Sản lượng khai thác thủy sản 10 tháng thực hiện trên 51.500 tấm, tăng 3,7% so với năm 2008. Sản lượng tôm nuôi vụ II ước thực hiện 5.200 tấn. Dự tính sản lượng tôm nuôi cả năm trên 10.000 tấn, năng xuất bình quân trên 58 tạ/ha, tăng 28,5 tạ/ha so với năm 2008. 1.4. Về đầu tư xây dựng. Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước năm 2009 cho đến thời điển hiện nay của tỉnh trên 2.800 tỷ đồng, chưa kể nguồn vốn hỗ trợ khắc phục bão số 9 và lũ cũng như các nguồn thực hiện từ các chương trình hỗ trợ lãi suất về kích cầu đầu tư theo các Quyết định 131, 443, 497 của Thủ tướng Chính phủ. Trong đó kế hoạch vốn đầu năm là 1.106 tỷ đồng; các nguồn vốn bổ sung trên 1.700 tỷ đồng, tập trung vào nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, nguồn vốn ứng trước kế hoạch năm 2010, 2011, nguồn vốn hỗ trợ các huyện nghèo. Đến 26/10/2009 nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2009 giải ngân 1.463/2.705 tỷ đồng, bằng 54% kế hoạch. Trong đó ngân sách Trung ương giải ngân 196 tỷ đồng, vượt kế hoạch vốn. Ngân sách tỉnh 810/1.800 tỷ đồng, bằng 45% kế hoạch vốn; ngân sách cấp huyện giải ngân 357/590 tỷ đồng, bằng 61%; ngân sách cấp xã giải ngân 98/153 tỷ đồng, bằng 64%. Khu kinh tế mở Chu Lai giải ngân gần 60% kế hoạch vốn năm 2009, đồng thời đang tập trung quyết toán vốn đầu tư các công trình hoàn thành. Kế hoạch vốn năm 2008 kéo dài phần ngân sách tỉnh giải ngân trên 103/161 tỷ đồng, bằng 65%. Thời gian qua, các Sở, ngành, địa phương, các chủ đầu tư đã có nhiều có gắng trong công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư phát triển trên địa bàn. Tuy nhiên đến nay việc giải ngân các nguồn vốn còn chậm so với kế hoạch. Văn phòng Chính phủ có văn bản cho phép thực hiện cấp phát thanh toán số vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước năm 2008 chuyển sang năm 2009 đến 31/12/2009. Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn chi tiết việc điều chuyển các nguồn vốn bao gồm nguồn vốn được cân đối đầu năm, nguồn vốn thực hiện theo chương trình trái phiếu Chính phủ và nguồn vốn ứng trước kế hoạch năm 2010, 2011. UBND tỉnh đã ra Chỉ thị về đẩy nhanh tiến độ thực hiện giải ngân vốn đầu tư xây dựng trên địa bàn nhằm đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn thành các công trình, dự án đảm bảo tiến độ giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản, đặc biệt đối với nguồn vốn trái phiếu Chính phủ và nguồn hỗ trợ có mục tiêu, góp phần duy trì và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, đảm bảo thực hiện tốt các chính sách kích cầu của Chính phủ và các mục tiêu, chỉ tiêu theo Nghị quyết của HĐND tỉnh đề ra. Đã thẩm tra quyết toán 212 dự án, với tổng giá trị thẩm tra quyết toán 421 tỷ đồng, giảm trên 10 tỷ đồng so với chủ đầu tư đề nghị. Qua 10 tháng đã cấp 04 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đăng ký 4,83 tỷ USD, trong đó có dự án khu du lịch sinh thái bãi biển rồng với tổng vốn đăng ký trên 4 tỷ USD. Đến 23/10/2009, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất là gần 3.000 tỷ đồng, chiếm trên 24% tổng dư nợ toàn địa bàn. Trong đó, cho vay ngắn hạn theo Quyết định 131 gần 2.400 tỷ, chiếm trên 80% dư nợ cho vay hỗ trợ; cho vay trung, dài hạn theo Quyết định 443 là 325 tỷ đồng, chiếm gần 11%. 1.5. Thu, chi ngân sách. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 10 tháng thực hiện 1.787 tỷ đồng, vượt hơn 2% dự toán cả năm 2009. Trong đó thu nội địa gần 1.332 tỷ đồng, vượt dự toán cả năm hơn 13,5% (dự toán 2009 là 1.173,5 tỷ đồng). Thu xuất nhập khẩu 359 tỷ đồng, bằng trên 75% dự toán năm. Thu bổ sung từ ngân sách Trung ương hơn 2.000 tỷ đồng, bằng 87%. Tổng chi ngân sách địa phương thực hiện trên 3.594 tỷ đồng, bằng trên 97% dự toán chi. Chi đầu tư phát triển 1.217 tỷ đồng, trong đó chi trong dự toán theo kế hoạch đầu năm 2009 là 722/1.106 tỷ đồng, bằng gần 60%, chi nguồn dự toán năm 2008 kéo dài 165 tỷ đồng, chi tạm ứng các năm trước chuyển sang năm 2009 là 328 tỷ đồng. Chi thường xuyên 2.012 tỷ đồng, bằng gần 90% dự toán. 2. Về xã hội. Toàn tỉnh có 15/18 huyện, thành phố đạt chuẩn về phổ cập tiểu học và chống mù chữ; 13 huyện, thành phố với 215 xã đạt chuẩn về phổ cập trung học cơ sở, tăng hơn 10% so với năm học trước. Đến giữa tháng 10, số bệnh nhân nghi nhiễm cúm A /H1N1 2.572 trường hợp, đã xác nhận 34 trường hợp nhiễm cúm A/H1N1. Tất cả các trường hợp nhiễm và nghi nhiễm cúm đều được theo dõi và điều trị tại các cơ sở y tế. Đến nay, hầu hết cơ bản các bệnh nhân đều ra viện. Qua 10 tháng, đã tổ chứ 04 phiên giao dịch việc làm. Đã xuất khẩu 92 lao động. Thông qua nguồn vốn Quỹ quốc gia về việc làm, đã cho vay hơn 1.000 dự án với số tiền trên 20 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho hơn 1.400 lao động. Tổng hợp kết quả rà soát hộ nghèo năm 2009, toàn tỉnh có 71.479 hộ nghèo/363.575 hộ dân, chiếm tỷ lệ 19,6%, giảm hơn 3,5% so với năm 2008, tương đương với giảm 10.727 hộ. UBND tỉnh đã phê duyệt chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững thuộc 03 huyện Phước Sơn, Tây Giang, Nam Trà My, đến năm 2020 với tổng kinh phí các đề án gần 14.500 tỷ đồng. Chỉ đạo các ngành liên quan phối hợp tổ chức xây dựng và triển khai các chương trình thuộc đề án theo Nghị quyết 30a của Chính phủ. Thực hiện chính sách đảm bảo an sinh xã hội, Ngân hàng Chính sách Xã hội trong tháng 10/2009, đã triển khai thêm công tác giải ngân cho đối tượng hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg. Đến 20/10/2009, dư nợ tại Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh gần 1.450 tỷ đồng, chiếm gần 12% trên tổng dư nợ toàn địa bàn. Trong đó, chủ yếu là cho vay hộ nghèo chiếm tỷ lệ 49%; cho vay học sinh sinh viên chiếm 22%; Cho vay sản xuất kinh doanh vùng khó khăn gần 13%. 3. Công tác nội chính, quốc phòng và an ninh: Các lực lượng vũ trang của tỉnh và Quân khu 5 cùng với các lực lượng cứu hộ và các cấp chính quyền đã tổ chức, thực hiện tốt việc cứu hộ, cứu trợ nhân dân vùng bị thiên tai. 4. Tình hình thiệt hại do bão số 9 và lũ trên địa bàn: Bão số 9 với sức gió mạnh, tàn phá lớn, kèm theo mưa to, trên địa bàn nhiều vùng ngập lụt trên mức lũ lịch sử năm 1999. Lãnh đạo UBND tỉnh trực tiếp chỉ đạo và huy động tổng lực đối phó với bão số 9 kịp thời, di dời dân ra khỏi những vùng nguy hiểm. Chính quyền các cấp và lực lượng vũ trang đã triển khai công tác cứu hộ, giúp đỡ, thực hiện tốt việc vận động nhân dân đoàn kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau vượt qua khó khăn khi bão số 9 và lũ xẩy ra. Tuy nhiên trước bão số 9 mạnh và diễn biến phức tạp đổ bộ trực tiếp vào địa bàn tỉnh, gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Theo thống kê đã có 30 người chết và 03 người chưa xác định, hơn 220 người bị thương. Gần 15.000 nhà bị sập, hơn 155.000 nhà dân và 12.000 nhà công cộng bị tốc mái, trên 175.000 nhà ngập nước từ 0,5 mét trở lên. 12.400 ha lúa Hè thu và lúa rẫy đang trong thời gian chuẩn bị thu hoạch bị hư hỏng, 10.600 ha hoa màu bị ngập úng. Kết cấu hạ tầng về giao thông, thủy lợi, điện, nước sinh hoạt, bưu chính viễn thông bị hư hại nặng. Tổng thiệt hại về vật chất là 3.500 tỷ đồng. UBND tỉnh khẩn trương, tập trung chỉ đạo triển khai các biện pháp cấp bách, nhanh chóng khắc phục hậu quả thiên tai, hỗ trợ các gia đình có người chết, bị thương và mất tích, các vùng bị thiệt hại, khôi phục kết cấu hạ tầng phục vụ dân sinh nhằm ổn định sản xuất và đời sống nhân dân. Bên cạnh đó, đã kiến nghị với Chính phủ và các Bộ ngành Trung ương hỗ trợ lương thực và kinh phí để tiếp tục thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả bão lũ. Thủ tướng Chính phủ đã Quyết định hỗ trợ cho tỉnh 115 tỷ đồng và 4.500 tấn gạo. Nhiều tổ chức, cá nhân tiếp tục ủng hộ đồng bào những vùng bị thiên tai. UBND tỉnh yêu cầu các cấp chính quyền trong tỉnh khẩn trương thực hiện việc hỗ trợ tiền và gạo đến các gia đình bị thiệt hại do bão số 9, kể cả nguồn tiền, hàng cứu trợ của các tổ chức, cá nhân, đơn vị, doanh nghiệp thông qua kênh của UBMTTQ các cấp, đảm bảo kịp thời, đúng mục đích, đúng đối tượng và công bằng. Tuyệt đối không để hộ dân nào bị thiếu đói sau bão lũ. Nguyễn Hưng |