|
I. NHỮNG KẾT QUẢ CHỦ YẾU 1. Về thực hiện mục tiêu ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh ước thực hiện 8.066 tỷ đồng, tăng 11%, đạt kế hoạch đề ra theo Nghị quyết HĐND điều chỉnh. Cơ cấu kinh tế trong GDP công nghiệp xây dựng chiếm 38,6%, dịch vụ chiến 38,4%, nông lâm ngư nghiệp chiếm 23%. 1.1 Giá trị Sản xuất công nghiệp &TTCN ước thực hiện gần 8.000 tỷ đồng, tăng 20,5% so với cùng kỳ, bằng 95% so với kế hoạch đầu năm. Đây là mức tăng thấp nhất so với những năm trở lại đây. Tình hình sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trong giai đoạn đầu năm rất khó khăn, tuy nhiên những tháng cuối năm chuyển biến tốt hơn so với những tháng đầu năm và có giá trị tháng sau luôn cao hơn tháng trước, trừ tháng 10 giảm hơn tháng 9 gần 10% do bị ảnh hưởng của bão số 9 và lũ. Một số doanh nghiệp đã tìm kiếm và ký kết được hợp đồng; tăng qui mô đầu tư, mở rộng sản xuất thông qua chương trình kích cầu của Chính phủ; tuyển mới và nhận trở lại công nhân do cắt giảm trước đây. Một số doanh nghiệp lớn hồi phục nhanh và đi vào hoạt động ổn định: Công ty ô tô Trường Hải trong quý I/2009 đã giảm gần 1.500 lao động nhưng đến nay, số lao động của doanh nghiệp đã có trên 1.800 lao động. Sản xuất gạch Prime đã đưa 4/7 dây chuyền vào hoạt động. Nhà máy sản xuất cồn Ethanol với công suất 100.000 tấn/năm đã hoạt động chạy thử. Phần lớn các sản phẩm chủ yếu của công nghiệp đều tăng so năm 2008. Trong đó một số huyện, thành phố có tốc độ tăng cao như: Đại Lộc tăng trên 90%; Phú Ninh tăng trên 40%; Nam Trà My, Tây Giang tăng trên 30%; Núi Thành, Tiên Phước, Tam Kỳ tăng 20%. 1.2. Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ 6.885 tỷ đồng, tăng 13,1% so với năm 2008, bằng 97% so với kế hoạch đầu năm. So với ngành công nghiệp, khu vực dịch chịu tác động của suy giảm kinh tế ít hơn. Nhưng do tình hình dịch cúm H1N1 và bão, lũ, đã tác động tiêu cực đến các ngành dịch vụ. Nhiều chương trình miễn, giãn, giảm thuế, phí, kết hợp với các hoạt động lễ hội văn hóa – du lịch; lễ hội hành trình di sản năm 2009; lễ hội những ngày giao lưu văn hoá Việt Nam - Nhật Bản; tuần văn hoá du lịch Quảng Nam hướng đến kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội và nhiều các hoạt động văn hóa thể thao khác, đã thu hút và duy trì lượng khách du lịch. Tổng khách tham quan và lưu trú 2.320.000 lượt, tăng hơn 8% so với năm 2008. Trong đó khách nội địa 1.180.000 lượt, tăng trên 25%; khách quốc tế 1.140.000 lượt giảm 5,5%. Xuất khẩu gặp nhiều khó khăn. Giá cả một số mặt hàng trong những tháng đầu năm ở mức thấp do nhu cầu nhập khẩu và khả năng thanh toán tại các thị trường giảm. Vì vậy mặc dù có sự tăng đáng kể về lượng hàng hóa, song xuất khẩu đa số các mặt hàng đều giảm về giá trị. Giá trị xuất khẩu 207 triệu USD, giảm 13% so với năm 2008. Trong đó mặt hàng dệt may tăng cả về số lượng và giá trị, với 58,3 trệu USD, tăng trên 9%. Các mặc hàng khác đều có giá trị xuất khẩu giảm. Nhập khẩu 320 triệu USD, chủ yếu là nguyên phụ liệu may mặc, giày da, linh kiện ô tô, máy móc thiết bị; hàng tiêu dùng chủ yếu là thuốc tân dược, hàng điện lạnh, xe máy. 1.3. Sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng nặng nhất do thiên tai ở vụ Hè Thu nên có tốc độ tăng thấp so với năm 2008. Ở lĩnh vực nông lâm thủy sản, ảnh hưởng nặng nhất là bão số 9 và lũ, đã làm cho sản xuất nông nghiệp sụt giảm nhiều so với kế hoạch đề ra. Hơn 9.900 ha lúa Hè thu, 2.400 ha lúa rẫy bị hư hỏng, trên 10.600 hoa màu bị ngập úng, 345.000 con gia cầm, 15.000 con gia súc bị nước lũ cuốn trôi; 1.000 ha cao su, 14.000 ha cây lâm nghiệp ngã đổ; 1.000 ha nuôi trồng thủy sản ngập nước. Nhiều kết cấu hạ tầng khác bị hư hại nặng. Giá trị sản xuất ngành nông lâm ngư nghiệp 2.665 tỷ đồng, tăng hơn 1,2% so với năm 2008, bằng 98,6% so với kế hoạch đề ra đầu năm. Vụ Đông xuân được mùa, với năng suất bình quân trên 51,6 tạ/ha, tăng hơn 9,2 tạ /ha so với vụ Đông Xuân năm trước. Tuy nhiên, vụ Hè Thu do ảnh hưởng của thiên tai, năng suất bình quân 39,7 tạ/ha, giảm gần 30.000 tấn so với vụ Hè Thu năm trước. Tổng sản lượng lúa cả năm 2009 hơn 394.400 tấn, tăng hơn 13.800 tấn so với năm 2008, bằng 102% kế hoạch năm. Do hai đợt dịch bệnh tai xanh trên đàn lợn, dịch lở mồm long móng, bệnh đốm trắng trong nuôi tôm đã ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi và nuôi trồng. Cùng với việc tạm dừng mua bán, giết mổ, tiêu thụ trong một thời gian do dịch bệnh, đã thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi. Tuy nhiên, do được tập trung bao vây khống chế và dập dịch kịp thời nên các đợt dịch trong năm không xẩy ra trên diện rộng. Sản lượng khai thác thủy sản trên 71.000 tấn, tăng 9,5% so với năm 2008. Trong đó sản lượng nuôi trồng trên 16.200 tấn, chiếm gần 23% tổng sản lượng, tăng trên 33%. Nuôi tôm trên cát với sản lượng từ 12 đến 20 tạ/ha/vụ đã mang lại lợi nhuận cao, nên một số hộ dân đã chặt phá phi lao, lấn chiếm đất xây dựng ao nuôi. Để ổn định sản xuất, UBND tỉnh đã ban hành qui hoạch diện tích nuôi tôm trên cát vùng ven biển ở huyện Thăng Bình. Diện tích rừng trồng tập trung từ các chương trình, dự án và trong nhân dân trên 10.100 ha, bằng 97% so với năm 2008. Tuy suất đầu tư hỗ trợ trồng rừng dự án 661 được nâng lên, nhưng diện tích trồng rừng phòng hộ không tăng, nguyên nhân chủ yếu là diện tích qui hoạch còn lại ở những địa bàn xa, địa hình phức tạp, chí phí đầu tư lớn. Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng 170.000 m3, bằng 69% kế hoạch, giảm 18% so với năm 2008. 1.4. Nguồn lực huy động cho đầu tư phát triển tăng khá trong điều kiện nhiều khó khăn do kinh tế suy giảm. Nổi bật nhất là thực hiện các chương trình kích cầu của Chính phủ. Tổng nguồn vốn đầu tư của tỉnh nhiều nhất từ trước đến nay, góp phần quan trọng trong việc phục hồi, duy trì tăng trưởng kinh tế và đầu tư kết cấu hạ tầng thiết yếu. Tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng về giao thông, nông nghiệp và nông thôn, các công trình văn hóa xã hội, chủ yếu là y tế và giáo dục, xây dựng ký túc xá cho sinh viên, nhà ở cho người nghèo. Những công trình này góp phần làm tăng trưởng kinh tế, có tác dụng lan tỏa sang các ngành sản xuất, giải quyết một bước khó khăn đã tồn tại của nhiều năm. Nhiều nhà đầu tư đã đến nghiên cứu đầu tư trên địa bàn, nhất là đến nghiên cứu đầu tư tại Khu Kinh tế mở Chu lai về sân bay quốc tế, du lịch ven biển, xử lý chất thải, liên kết đào tạo, sản xuất thép... Đã cấp 05 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đăng ký trên 4,15 tỷ USD, trong đó có dự án khu du lịch sinh thái bãi biển rồng với tổng vốn đăng ký trên 4,1 tỷ USD. Bên cạnh đó đã thu hồi giấy phép 03 dự án, nâng tổng số lên 49 dự án đã thu hồi giấy phép từ trước đến nay do không triển khai thực hiện đúng cam kết. Nguồn vốn FDI thực hiện trong năm 900 tỷ đồng. Vận động viện trợ phi chính phủ thông qua 109 chương trình, dự án được UBND tỉnh đồng ý tiếp nhận 140 tỷ đồng, trong đó cam kết trong năm 2009 trên 90 tỷ đồng. Số doanh nghiệp trong nước đăng ký mới trong năm 2009 khoảng 650 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký trên 4.500 tỷ đồng, trong đó Khu Kinh tế Mở Chu Lai đã cấp phép cho một số doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký trên 3.000 tỷ đồng. Dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất trên 3.500 tỷ đồng, chiếm trên 24% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế. Trong đó, cho vay ngắn hạn theo Quyết định 131 gần 2.700 tỷ, chiếm trên 77% dư nợ cho vay hỗ trợ. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện trên 9.240 tỷ đồng, bằng 99,3% kế hoạch, tăng 29,6% so với năm 2008 và chiếm trên 44,4% trong GDP đã góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế, đồng thời tạo động lực mới thúc đẩy sản xuất cho các năm sau. 1.5. Thu nội địa vượt dự toán năm, đảm bảo cân đối các mục tiêu chi quan trọng. Tổng thu nội địa 1.600 tỷ đồng, vượt trên 36%; thu xuất nhập khẩu 400 tỷ đồng, bằng 84% dự toán. Tổng chi ngân sách địa phương 6.212 tỷ đồng, vượt 67% dự toán. Chi vượt cao chủ yếu là do Trung ương năm nay bổ sung và chuyển nguồn từ năm 2008 sang. 1.6. Công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo lộ trình đã đạt được những kết quả, nhưng còn chậm và gặp nhiều khó khăn. Mặc dù đã tập trung chỉ đạo và thực hiện, nhưng qua kinh nghiệm và thực tiễn, công tác này phần lớn phụ thuộc vào trách nhiệm Giám đốc của các doanh nghiệp trong việc xử lý các vướng mắc về tài chính, trong khi qui trình chuyển đổi khá phức tạp. Việc xác định lợi thế đất đai để xác định phần vốn nhà nước, bán cổ phiếu trong điều kiện các doanh nghiệp của tỉnh có qui mô nhỏ, kinh doanh kém hiệu quả, đã ảnh hưởng đến tiến trình thực hiện cổ phần hóa. Trong năm 2009 phấn đấu hoàn thành 02 doanh nghiệp: Công ty Xổ số kiến thiết và Công ty khai thác công trình thủy lợi. Bên cạnh đó một số doanh nghiệp đẩy nhanh tiến độ thực hiện cơ bản hoàn thành như Công ty Đầu tư Phát triển Kỳ Hà - Chu Lai, Công ty Xây lắp điện. Cùng với sự chỉ đạo quyết liệt, tuy còn gặp nhiều khó khăn, nhưng dự kiến phấn đấu hoàn thành chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước đúng theo lộ trình được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. 2. Về đảm bảo an sinh xã hội và các lĩnh vực xã hội khác UBND tỉnh đã chỉ đạo thực hiện nhiều chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ cho người nghèo, đồng bào dân tộc, các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, các đối tượng chính sách và những người bị mất việc làm do suy giảm kinh tế, để giảm bớt khó khăn cho người dân và thúc đẩy sản xuất là nét nổi bật nhất trong năm 2009. Các hoạt động giáo dục đào tạo, văn hóa, thông tin và chăm sóc sức khỏe nhân dân đã khắc phục những khó khăn, nhờ đó, tình hình chính trị xã hội giữ được ổn định, tạo được sự đồng thuận trong việc thực hiện chính sách. Tổ chức lễ động thổ xây dựng tượng đài Bà Mẹ Việt Nam anh hùng nhân kỷ niệm 62 năm ngày thương binh liệt sĩ 27/7; Khởi công công trình cầu Cửa Đại và công nhận là công trình thi đua lập thành tích chào mừng 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội và các ngày lễ lớn của đất nước, các sự kiện chính trị của tỉnh trong 2 năm 2009 – 2010 Triển khai thực hiện các chính sách như: Hỗ trợ người nghèo ăn Tết, trợ cấp khó khăn cho cán bộ công chức có thu nhập thấp trong 4 tháng đầu năm, hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo; xây dựng ký túc xá cho sinh viên. Hoàn thành kế hoạch thực hiện di dời 486 hộ dân vùng sạt lở. Phê duyệt đề án và triển khai chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đến năm 2020 với tổng nguồn vốn gần 14.500 tỷ đồng thuộc 03 huyện nghèo Phước Sơn, Tây Giang, Nam Trà My theo Nghị Quyết 30a của Chính phủ; trong đó, với kế hoạch ứng vốn 75 tỷ đồng đã phân bổ đầu tư 62 danh mục công trình các loại, dự kiến đến cuối năm sẽ hoàn thành 100% công trình này để đưa vào sử dụng. UBND tỉnh đã vay 80 tỷ đồng, phân bổ cho các huyện, thành phố, cùng với ngân sách cấp huyện và đóng góp của nhân dân thực hiện hơn 550 km đường giao thông nông thôn trong năm 2009. Hoàn thành 07 tuyến đường trong tổng số 24 tuyến đường ô tô đến trung tâm xã, với tổng vốn trên 200 tỷ đồng; 10 tuyến hoàn thành giai đoạn 1, và chuẩn bị thực hiện tiếp giai đoạn 2. Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn có sự chuyển biến. Ngoài nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước, một số doanh nghiệp đã đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, nổi bật là các công ty đầu tư trồng rừng nguyên liệu giấy, trồng cao su. Ngoài hình thức các công ty thuê đất, lao động, bên cạnh đó đã liên kết với nông dân theo hình thức người nông dân góp đất hoặc hợp đồng nhận khoán trồng, chăm sóc rừng gắn với phân chi lợi nhuận; trong thời kỳ kiến thiết cơ bản, người nông dân được trả lương, nhận hỗ trợ trồng xen cây ngắn ngày để có thu nhập thêm. Đây là mô hình tạo sự gắn kết giữa nông dân và doanh nghiệp trong việc quản lý, chia sẻ lợi ích, từng bước hình thành lực lượng công nhân nông nghiệp. Toàn tỉnh có 120 hợp tác xã, với hơn 165.000 xã viên, trong đó năm 2009 thành lập mới 08 hợp tác xã. Gần 1.200 tổ hợp tác, với 16 tổ hợp tác thành lập mới. Đã triển khai thí điểm mô hình nông thôn mới với nguồn vốn ứng trước kế hoạch 04 tỷ đồng. Tất cả các trường hợp nhiễm và nghi nhiễm cúm A/H1N1 đều được theo dõi và điều trị tại các cơ sở y tế. Toàn tỉnh có 100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn về phổ cập tiểu học và chống mù chữ. Có 13 huyện, thành phố với 215 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở, chiếm gần 90% số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn, tăng gần 11% so với năm học trước. Tổ chức 06 phiên giao dịch việc làm, tạo thêm cơ hội cho nhiều lao động được tuyển dụng. Kết quả có 104 đơn vị tham gia tuyển dụng lao động, 238/2.886 người đăng ký tìm việc được tuyển dụng trực tiếp. Đã xuất khẩu 95 lao động. Thông qua nguồn vốn Quỹ quốc gia về việc làm, cho vay hơn 1.000 dự án với số tiền trên 20 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho hơn 1.400 lao động trong tổng số 36.000 lao động được giải quyết việc làm trong năm, bằng 94,7% so với chỉ tiêu kế hoạch. Đã tuyển 4.320 người học nghề từ chương trình hỗ trợ dạy nghề cho lao động nông thôn, người dân tộc thiểu số, lao động là người tàn tật và lao động thuộc diện hộ nghèo, vượt 5% kế hoạch, tăng 229 người so với năm 2008. Tổng số học viên tốt nghiệp các khoá đào tạo nghề tại 42 cơ sở dạy nghề của toàn tỉnh trên 31.200 người, tăng 1.760 người. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề chiếm 25%. Hoàn chỉnh việc giải quyết các hồ sơ người có công tồn đọng với 1.228 hồ sơ trên phạm vi toàn tỉnh, có 962 hồ sơ đủ điều kiện, trong đó 426 hồ sơ đề nghị xác nhận liệt sĩ; 370 hồ sơ đề nghị xác nhận người hưởng chính sách như thương binh, 166 hồ sơ đề nghị xác nhận người hoạt động kháng chiến bị địch bằt tù đày. Giải quyết trợ cấp hàng tháng 55.700 trường hợp người có công với tổng kinh phí trên 568 tỷ đồng. Xác lập hồ sơ đề nghị truy tăng và phong tặng danh hiệu vinh dự nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng 32 trường hợp; đề nghị tặng thưởng Huân chương độc lập các hạng 135 gia đình có nhiều liệt sĩ. Lập thủ tục giải quyết chế độ gần 22.200 trường hợp, trong đó trên 12.300 trường hợp trợ cấp ưu đãi đối với học sinh, sinh viên; 4.400 trường hợp trợ cấp theo Quyết định 290/QĐ-TTg; 700 trường hợp trợ cấp đối với người có công giúp đỡ cách mạng. Cấp trên 335.500 thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo và người dân tộc tại các xã đặc biệt khó khăn. Gần 400.000 lượt người nghèo được khám chữa bệnh miễn phí với tổng kinh phí 60 tỷ đồng. Hỗ trợ 303.200 nhân khẩu trong tổng số trên 81.600 hộ, số tiền 56 tỷ đồng theo Quyết định 81/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ cho người nghèo. Đã khởi công xây dựng 1.742 nhà ở cho người có công, hoàn thành 1.692 nhà, đạt trên 84,6%, với tổng kinh phí 30 tỷ đồng Vận động hơn 10,7 tỷ đồng Quỹ đền ơn đáp nghĩa và Quỹ vì người nghèo. Toàn tỉnh có 71.479 hộ nghèo/363.575 hộ dân, chiếm tỷ lệ 19,6%, giảm 3,6% so với năm 2008, tương đương với giảm 10.727 hộ. Các đoàn vận động viên được cử thi đấu các giải trong nước và quốc tế đạt kết quả tốt với 38 huy chương các loại: 09 huy chương Vàng, 12 huy chương Bạc, 19 huy chương Đồng, đặc biệt có 03 huy chương giải Quốc tế. 3. Vè tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững Nhiều Hội thảo về công tác bảo vệ môi trường đã được tổ chức; góp ý chiến lược và kế hoạch hành động về kiểm soát môi trường. Tổ chức nhiều đợt tập huấn, xây dựng và nâng cao năng lực về đánh giá tác động môi trường, góp phần nâng cao nhận thức, từng bước áp dụng đánh giá môi trường chiến lược vào trong các qui hoạch, kế hoạch và trong từng dự án cụ thể. Đã hoàn thành giai đoạn I nhà máy xử lý nước thải tập trung đầu tiên ở khu công nghiệp trên địa bàn với tổng vốn đầu tư gần 30 tỷ đồng, phục vụ xử lý toàn bộ nước thải công nghiệp và sinh hoạt tại khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc. Tiếp tục đầu tư hơn 5,5 tỷ đồng từ ngân sách tập xây dựng 03 khu xử lý rác thải tập trung ở Đại Lộc, Núi Thành, từng bước đáp ứng yêu cầu thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt ở các đô thị. Thúc đẩy tiến độ một số dự án ODA về môi trường ở những vùng quan trọng, trước hết là xử lý nước thải, rác thải khu vực đô thị Tam Kỳ, Hội An; khôi phục rừng và phát triển bền vững. Nhiều công trình phục vụ phát triển kinh tế - xã hội được xây dựng ở khu vực miền núi, ít nhiều ảnh hưởng đến diện tích rừng và công tác quản lý, bảo vệ rừng. Một số công trình đường giao thông được lợi dụng để tiếp cận những khu vực rừng còn lại dễ dàng hơn; một số diện tích rừng được chuyển mục đích do diện tích chiếm chỗ các lòng hồ, đường giao thông, đường dây điện, các khu phục vụ tái định cư cho người dân vùng lòng hồ thủy điện. Bên cạnh đó, năng lực quản lý của một số đơn vị chủ rừng còn nhiều hạn chế, đã để xẩy ra một số vụ phá rừng làm rẫy, khai thác lâm sản trái phép, chậm được phát hiện, xử lý. Một số địa phương chưa thực hiện hết trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp. 4. Công tác nội chính, quốc phòng - an ninh, đối ngoại Đã tổ chức tốt Hội nghị thường niên với đoàn đại biểu cấp cao tỉnh Sêkông của nước bạn Lào; thảo luận và thực hiện công tác khảo sát vấn đề cắm mốc biên giới theo kế hoạch. Đồng thời tổ chức gặp gỡ các doanh nghiệp của Quảng Nam và Sêkông bàn về hợp tác đầu tư. Vận động, thẩm tra các và tiếp nhận một số chương trình phi chính phủ. Đã tổ chức tốt Hội thao Quốc phòng toàn tỉnh. Chuẩn bị các điều kiện và tổ chức thành công công tác diễn tập phòng thủ năm 2009 trên địa bàn tỉnh. Công tác tuyển quân, giao quân đủ chỉ tiêu, đúng kế hoạch. Toàn tỉnh đã triển khai 183/175, cuộc thanh tra về kinh tế - xã hội và phòng chống tham nhũng, vượt 4,5% so với kế hoạch năm. Qua thanh tra đã phát hiện sai phạm trong quản lý kinh tế trên 18,1 tỷ đồng và 92.154 m2 đất các loại. Đã xử lý 103 tập thể, 400 cá nhân, chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 02 vụ. Riêng qua 16 cuộc thanh tra về xây dựng cơ bản, đã phát hiện sai phạm trên 5,6 tỷ đồng, kiến nghị thu hồi trên 900 triệu đồng. Qua thanh tra đã phát hiện các sai phạm như đơn vị thi công không thực hiện đúng khối lượng, chủng loại vật tư; không đúng với thiết kế được phê duyệt; thanh toán vượt khối lượng thực tế, gây thất thoát vốn đầu tư. Các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn đã tổ chức tiếp trên 9.000 lượt, tăng 2,4% so với năm 2008; tiếp nhận 2.764 đơn khiếu nại và 169 đơn tố cáo, giảm 7,8% về số đơn khiếu nại, tăng trên 3% về đơn tố cáo so với năm 2008. UBND tỉnh đã xử lý và giao cho các ngành chức năng thẩm tra, xác minh, tham mưu UBND tỉnh giải quyết theo qui định. Triển khai phòng tránh bão số 1, số 9 và lũ được thực hiện tốt, góp phần hạn chế các thiệt hại do thiên tai gây ra. II. NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI Thiệt hại do bão số 9 và lũ năm 2009 là rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và dân sinh. Tuy đã tập trung quyết liệt để hạn chế thấp nhất thiệt hại, nhưng hậu quả thiên tai để lại còn nặng nề cần phải mất nhiều thời gian và kinh phí lớn mới có thể tiếp tục khắc phục. Tốc độ tăng trưởng nền kinh tế (GDP) gần 11% nhưng đây là mức tăng thấp nhất trong 6 năm trở lại đây. Hầu hết các chỉ tiêu có tốc độ tăng nhưng không đạt kế hoạch đầu năm đề ra. Cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch chậm, thiếu bền vững. Cơ cấu kinh tế công nghiệp - xây dựng và dịch vụ chiếm trên 77% trong GDP, nhưng cơ cấu công nghiệp - xây dựng chỉ tăng 0,4% so với năm 2008, từ 38,58% năm 2008 lên 38,62% năm 2009. Bên cạnh đó do tình hình hình dịch bệnh trong chăn nuôi nên cơ cấu ngành chăn nuôi trong nội bộ ngành nông nghiệp cũng chuyển dịch chậm, chiếm tỷ lệ gần 26%. Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước năm 2009 của tỉnh lớn, là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy phát triển, nhưng thực hiện và giải ngân còn thấp. Riêng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ đợt 2 và nguồn tạm ứng ngân sách năm 2010, 2011 mới bổ sung vào những tháng cuối năm nên tỷ lệ giải ngân chưa đáng kể. Tuy thu nội địa tăng cao với dự toán, nhưng thu thuế xuất nhập khẩu thực hiện thấp. Công tác quản lý môi trường, tài nguyên, bảo vệ rừng có chuyển biến tích cực nhưng còn hạn chế, việc khai thác tùy tiện các khoáng sản như vật liệu xây dựng, vàng sa khoáng; chặt phá rừng vẫn còn tiếp diễn. Chưa chủ động tại chỗ trong phòng chống dịch bệnh nên ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi. Dịch tai xanh ở lợn và lở mồm long móng ở gia súc tuy đã được dập tắt kịp thời, không lây lan trên diện rộng nhưng nguy cơ vẫn còn tiềm ẩn, dễ tái phát. Do tác động của suy giảm kinh tế, việc bảo đảm an sinh xã hội còn nhiều khó khăn. Một số chế độ chính sách an sinh xã hội triển khai chậm, một số nơi còn để xẩy ra tiêu cực. Kinh tế - xã hội miền núi phát triển còn chậm, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Các giải pháp giảm nghèo ở miền núi còn lúng túng, thiếu tính đồng bộ. Kết cấu hạ tầng về giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục một số vùng nông thôn, miền núi còn gặp nhiều khó khăn. So với cùng kỳ, số người chết do tai nạn giao thông có giảm, nhưng vẫn còn ở mức cao; số vụ và số người bị thương tăng. Nhìn chung, năm 2009 có rất nhiều khó khăn, thách thức, tuy vẫn còn không ít hạn chế yếu kém, nhưng đã đạt được những kết quả quan trọng. Kinh tế tăng trưởng phù hợp với thực tế của tỉnh trong điều kiện suy giảm; phần lớn các chỉ tiêu chủ yếu đều tăng hơn so với năm trước. An sinh xã hội được đảm bảo. Các mặt xã hội được quan tâm, an ninh chính trị và trật tự an toàn được giữ vững; công tác đối ngoại được tăng cường. Nguyễn Hưng |