Hôm nay: 06/09/2010, 01:09
Tin mới: 
English

   Trang chủ

Phát triển kinh tế xã hội
Đ.tư trực tiếp nước ngoài
Đ.tư phát triển chính thức
Đầu tư trong nước
Đăng ký kinh doanh
Q.lý nhà nước về đấu thầu
Thẩm định và giám sát ĐT
Hội nhập kinh tế quốc tế
Phát triển bền vững
Các đơn vị trực thuộc
Thủ tục hành chính
Thi đua khen thưởng
Văn bản Sở ban hành
Thông tin liên quan khác
Một số văn bản TW


 

Văn bản QPPL
UBND tỉnh
Bộ Kế hoạch - Đầu tư
Dành cho thành viên

Tên

Mật khẩu

Nhớ mật khẩu

Quên mật khẩu
Tình hình thực hiện phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2010 In E-mail

Thực hiện Nghị quyết của HĐND về nhiệm vụ năm 2010 và Nghị Quyết 18/NQ-CP của Chính phủ, UBND tỉnh xác định phải tập trung nỗ lực huy động các nguồn lực của toàn xã hội, đảm bảo thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu đã đề ra, đạt tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh 12,5% trong năm 2010.

1. Kinh tế duy trì ở mức tăng trưởng khá, GDP có tốc độ tăng trưởng trên mức kế hoạch đề ra.

Tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn 6 tháng thực hiện 4.678 tỷ đồng tỷ đồng (giá cố định 94) bằng 51,5 kế hoạch năm, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm 2009. Như vậy qua 6 tháng thực hiện, GDP có tốc độ tăng cao hơn 0,1% so với mức tăng của kế hoạch đề ra cho cả năm (12,5%). Trong đó khu vực nông, lâm ngư nghiệp tăng hơn 01%; công nghiệp và xây dựng tăng trên 18,8%; khu vực dịch vụ tăng gần 12,4%.

Cơ cấu các ngành kinh tế trong GDP tiếp tục chuyển dịch tích cực. Công nghiệp – xây dựng và dịch vụ chiếm trên 79%, nông lâm thủy sản chiếm gần 21%.

1.1 Giá trị Sản xuất công nghiệp &TTCN (giá cố định) tăng trưởng gần 27,5% so với cùng kỳ năm 2009, bằng gần 46% kế hoạch năm.

Giá trị ngành công nghiệp 6 tháng thực hiện 4.627 tỷ đồng, gấp 1,5 lần so với mức tăng cùng kỳ năm 2009 (6 tháng đầu năm 2009 tăng 18%), tốc độ tăng này cũng cao hơn 01% so với tốc độ tăng của kế hoạch năm đề ra (26,5%).

Trong đó khu vực kinh tế nhà nước thực hiện trên 600 tỷ đồng, chiếm 12% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp và tăng gần 12%; Khu vực kinh tế ngoài nhà nước thực hiện 2.900 tỷ đồng, chiếm trên 62% tổng giá trị, tăng trên 32% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trên 1.120 tỷ đồng, chiến 24% giá trị, tăng trên 24%.

Mặc dù gặp khó khăn do cắt điện luân phiên, nhưng các doanh nghiệp đã phấn đấu thúc đẩy sản xuất với khối lượng sản phẩm tăng khá. Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh như: Vàng khai thác 430 kg, tăng trên 42% so với cùng kỳ; gạch men cao cấp 9,4 triệu m2, tăng hơn 2,2 lần; giày da cao cấp gần 09 triệu đôi, tăng trên 33%; thủy sản chế biến các loại trên 4.600 tấn, tăng 7,5%; thép cán xây dựng trên 18.000 tấn, tăng 30%, ô tô lắp ráp trên 10.000 chiếc, nâng tổng số đến nay trên 70.000 chiếc; linh kiện điện tử 150 triệu chiếc, nâng tổng số lên 630 triệu chiếc; Điện thương phẩm trên 390 triệu kw, tăng 81%. Một số các sản phẩm mới như: Kính nổi 700 tấn/ngày đêm; cồn ethanol.

1.2. Giá cả các ngành dịch vụ, du lịch, thương mại, xuất khẩu đều tăng so với cùng kỳ.

Giá trị sản xuất ngành dịch vụ thực hiện trên 4.321 tỷ đồng, bằng trên 54% kế hoạch và tăng 15,3% so với cùng kỳ. Tốc độ tăng này xấp xỉ với tốc độ tăng của kế hoạch đề ra cho cả năm là 15,5%.

Đã tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện các biện pháp bình ổn thị trường, góp phần không để lạm pháp cao quay trở lại theo tinh thần Nghị Quyết 18 của Chính phủ, đồng thời triển khai thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Tăng cường công tác Quản lý thị trường, đã kiểm tra, kiểm soát trên 1.700 vụ, với tổng số tiền thu phạt trên 1,5 tỷ đồng.

Chỉ số giá tiêu dùng tăng 6,9% so với tháng 6 năm 2009. Trong đó hàng dịch vụ và ăn uống tăng 6,4%. Một trong những nhóm hàng tăng cao là nhà ở, điện, nước, chất đốt, vật liệu xây dựng và giao thông tăng trên 15%. Tuy nhiên chỉ số giá tiêu dùng tháng 6 chỉ tăng 0,12% so với tháng 5 năm 2010, và nhóm hàng tăng cao này đều giảm so với tháng 5. Cùng với cả nước, đây là kết quả tích cực trong việc ngăn ngừa lạm phát cao quay trở lại.

Tổng lượt khách tham quan, lưu trú trên 01 triệu lượt, tăng trên 6% so với cùng kỳ. Trong đó khách quốc tế trên 600 ngàn lượt, tăng gần 4%; khách nội địa gần 460 ngàn lượt, tăng trên 10%. Doanh du lịch trên 480 tỷ đồng, tăng trên 9,5%.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ 6 tháng 7.125 tỷ đồng, bằng 53% so với kế hoạch năm, tăng gần 34% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng kim ngạch xuất khẩu gần 115 triệu USD, bằng gần 40% kế hoạch, tăng 6% so với cùng kỳ (06 tháng đầu năm 2009 giảm 7,5% so với cùng kỳ năm 2008). Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là: Dệt may 30 triệu USD, tăng gần 4%; nguyên liệu giấy trên 10 triệu USD, tăng gần 60%; chíp điện tử trên 08 triệu USD, tăng gấp 1,5 lần; vàng thỏi tăng gấp 2 lần. Riêng hàng hải sản xuất khẩu 8,5 triệu USD, giảm 21% so với cùng kỳ và bằng trên 28% kế hoạch.

Nhập khẩu gần 240 triệu USD, tăng 66% so với cùng kỳ. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là linh kiện ô tô, phụ liệu giày dép.

1.3. Giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp tăng 2,85% so với cùng kỳ và chiếm trên 54% kế hoạch năm.

Giá trị toàn ngành nông nghiệp thực hiện trên 1.520 tỷ đồng. Trong đó nông nghiệp 1.053 tỷ đồng, tăng 5,7%; lâm nghiệp 122 tỷ đồng, tăng 4,5%; thủy sản 346 tỷ đồng, giảm 5,5%. Mặc dù ngành thủy sản giảm 5,5% so với cùng kỳ, nhưng cơ cấu ngành thủy sản chỉ chiếm tỷ trọng gần 23% trong tổng giá trị, nên giá trị sản xuất chung của toàn ngành nông lâm thủy sản vẫn tăng 2,85%. Mức tăng này thấp hơn 2% so với mức tăng của kế hoạch đề ra cho cả năm (5,0%).  

Diện tích lúa vụ Đông Xuân năm nay trên 42.200 ha, hơn 01% so với kế hoạch đề ra. Năng suất bình quân 50,6 tạ/ha, giảm khoảng 01 tạ/ha so với vụ Đông xuân năm 2009.

Tình hình dịch bệnh tai xanh, dịch cúm gia cầm 6 tháng qua đã xuất hiện trên nhiều tỉnh thành trong cả nước. Trên địa bàn tỉnh 6 tháng qua cũng xuất hiện ở một vài điểm dịch, các ngành chức năng và các địa phương trong tỉnh đã tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và ngăn chặn kịp thời, không để lây lan trên diện rộng.

Sản lượng khai thác thủy sản thực hiện trên 35.000 tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ, bằng 70% kế hoạch năm.

Diện tích nuôi trồng thủy sản trên 6.300 ha, giảm gần 10%, với sản lượng gần 4.300 tấn, bằng gần 57% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó diện tích tôm nuôi chiếm 92% nhưng giảm hơn 100 ha về diện tích và sản lượng vụ I giảm hơn 62% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó một số hồ, đập nước ngọt đang được sửa chữa, nên diện tích và sản lượng thủy sản nước ngọt cũng giảm so với cùng kỳ.

1.4. Về đầu tư và xây dựng.

Để đảm bảo mục tiêu của năm 2010 về tốc độ tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xây dựng ký túc xá cho sinh viên, nhà ở công nhân tại các khu, cụm công nghiệp và các mục tiêu khác, nhu cầu tổng vốn đầu tư toàn xã hội của tỉnh là rất lớn. Chính vì vậy, cần rà soát lại các qui hoạch, các dự án đầu tư; tập trung thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường thiệt hại, tái định cư, cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, tranh thủ sự hỗ trợ từ các Bộ ngành Trung ương, nhất là các công trình, dự án trọng điểm về giao thông, thủy lợi, thủy điện, môi trường, biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai; đôn đốc các nhà đầu tư triển khai thực hiện các dự án để đưa vào sử dụng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định đời sống nhân dân.

Trong 6 tháng đầu năm Khu kinh tế mở Chu Lai đã đã có 09 dự án đầu tư được cấp phép với tổng vốn trên 664 triệu USD, trong đó có một số dự án lớn như Khu cảng và hậu cần cảng Tam Hiệp, nhà máy ô tô khách Trường Hải, nhà máy sản xuất tấm thu năng lượng mặt trời, nhà máy sản xuất Sô Đa... Do làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư nên ngay sau khi cấp phép, có 5/9 dự án đã triển khai xây dựng, 04 dự án còn lại sẽ hoàn chỉnh các thủ tục để triển khai xây dựng trong 6 tháng cuối năm.

Trên địa bàn tỉnh 6 tháng đã đăng ký cấp phép 300 doanh nghiệp trong nước, với tổng vốn đăng ký trên 2.000 tỷ đồng, nâng tổng số doanh nghiệp trong nước trên 4.100 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký gần 20.000 tỷ đồng. Đã thu hút và cấp thêm 03 giấy phép đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đăng ký trên 03 triệu USD. Ước 6 tháng đầu năm nguồn vốn này thực hiện trên 35 triệu USD, tăng 30% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, rà soát lập thủ tục thu hồi 04 dự án do không triển khai thực hiện, không ký quĩ đầu tư theo cam kết.

Theo số liệu thống kê, tổng vốn đầu tư toàn xã hội 6 tháng đầu năm thực hiện trên 5.025 tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2009 và bằng 43% kế hoạch năm (11.700 tỷ đồng).

1.5. Các tổ chức tín dụng, ngân hàng tích cực huy động và cho vay thúc đẩy sản xuất; thu ngân sách đạt khá, đảm bảo cân đối các mục tiêu chi quan trọng.

Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 13.500 tỷ đồng, tăng 7,3% so với đầu năm và bằng 41% chỉ tiêu. Chiếm đa số là cho vay trung, dài hạn trên 60%; cho vay ngắn hạn chiếm 10%. Dư nợ cho vay hỗ trợ trên địa bàn 1.120 tỷ đồng, chiếm trên 8,3% tổng dư nợ cho vay. Trong đó cho vay trung, dài hạn theo Quyết định 443/QĐ-TTg về hỗ trợ phát triển sản xuất 590 tỷ đồng, chiếm 53%; cho vay theo Quết định 579/QĐ-TTg về hỗ trợ vay ngân hàng chính sách xã hội 480 tỷ đồng, chiếm 43%; cho vay theo Nghị Quyết 30a trên 19 tỷ đồng.

Thu ngân sách địa phương thực hiện 6 tháng đầu năm trên 5.300 tỷ đồng, bằng 103 % dự toán năm. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn trên 1.750 tỷ đồng, chiếm 72% dự toán năm. Trong đó, thu nội địa gần 1.050 tỷ đồng, tăng trên 40% so với cùng kỳ và chiếm trên 61% dự toán năm. Thu thuế xuất nhập khẩu 620 tỷ đồng, bằng 137% dự toán, tăng 168% so với cùng kỳ. Thu xuất nhập khẩu tăng cao là do hàng nhập khẩu tăng so với cùng kỳ, chủ yếu là hàng linh kiện ô tô và xe máy, phụ liệu may mặc. Thu để lại chi qua ngân sách nhà nước trên 82 tỷ đồng, chiếm 30% dự toán năm.

Tổng chi ngân sách địa phương thực hiện trên 2.660 tỷ đồng, bằng gần 52% dự toán năm, tăng 09% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển trên 1.200 tỷ đồng, bằng 83% so với kế hoạch đầu năm và bằng 48% so với tổng vốn đầu tư của năm 2010; chi thường xuyên 1.045 tỷ đồng, bằng 44 %.

Kết quả kiểm soát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung đến 31/5/2010 là 726 tỷ đồng, bằng 31% kế hoạch.

Trong 6 tháng đầu năm đã thẩm tra 166 dự án, công trình thuộc khối tỉnh quản lý với tổng gía trị quyết toán sau thẩm tra là 459 tỷ đồng, giảm 11 tỷ đồng so với chủ đầu tư đề nghị.  

1.6. Công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo lộ trình cơ bản đã hoàn thành.

Theo lộ trình thực hiện sắp xếp, chuyển đổi, cổ phần hóa theo Quyết định số 1038/QĐ-TTg ngày 15/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ, Quảng Nam có 19 doanh nghiệp phải sắp xếp, chuyển đổi, cổ phần hóa giai đoạn 2007-2010.

Tuy nhiên, với quyết tâm thực hiện cổ phần hóa, sắp xếp các doanh nghiệp nhà nước theo đúng lộ trình, trong 6 tháng đã thẩm định trình phê duyệt giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa cho 7 doanh nghiệp và trình chuyển đổi sang loại hình công ty TNHH một thành viên cho 9 doanh nghiệp. Như vậy, đến nay cơ bản đã hoàn thành việc chuyển đổi, sắp xếp doanh nghiệp theo kế hoạch. Bên cạnh đó, do tình hình tài chính, công nợ khá phức tạp nên còn  02 đơn vị là Công ty xây dựng và phát triển hạ tầng Quảng Nam và Công ty Thương mại Đầu tư Phát triển miền núi đang được tiếp tục thực hiện.

2. Văn hoá xã hội tiếp tục được quan tâm, tích cực triển khai các giải pháp về đảm bảo an sinh xã hội.

Nhiều hoạt động văn hóa thể thao và du lịch nhân sự kiện các ngày lễ lớn như: 80 năm thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, 120 năm ngày sinh nhật Bác; 50 năm kết nghĩa Quảng Nam - Thanh Hóa, 35 năm giải phóng Quảng Nam; 45 năm chiến thắng Núi Thành và nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ khác được tổ chức.

Cơ bản hoàn thành phổ cập THCS với 237/240 xã, phường, thị trấn hoàn thành công tác phổ cập trung học cơ sở. Tổ chức tốt kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2010. Kết quả, đối với giáo dục trung học phổ thông tỷ lệ tốt nghiệp là 94,85%; giáo dục thường xuyên là 54,63%.

Tỷ lệ đi học Tiểu học 99,5% so với dân số trong độ tuổi từ 06-10, trong đó học sinh đi học đúng độ tuổi 97%; tỷ lệ trẻ em 06 tuổi vào lớp một hàng năm xấp xỉ 100%. Tỷ lệ đi học Trung học cơ sở 92% so với dân số trong độ tuổi 11-14. Tỷ lệ đi học Trung học phổ thông 75% so với dân số trong độ tuổi từ 15-17. Tỷ lệ học sinh phổ thông bỏ học năm học 2009-2010 là 0,51%, giảm 0,04% so với năm học trước.

Phổ cập giáo dục trung học cơ sở trên 96%, tăng gần 6,7%. Số trường đạt chuẩn quốc gia là 219 trường, chiếm tỷ lệ 30% và tăng 17 trường so với năm học trước. Trong đó có 40 trường mầm non, 125 trường tiểu học, 61 trường trung học cơ sở. Đối với trường trung học phổ thông lý do chính chưa đạt trường chuẩn là số học sinh bình quân/lớp chiếm tỷ lệ quá cao; cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học chưa đáp ứng theo yêu cầu.

Toàn tỉnh đã thành lập 161 trung tâm học tập cộng đồng, chiếm tỷ lệ gần 67% số xã phường, thị trấn trong tỉnh.

Cơ sở vật chất ngành y tế được tăng cường, trang thiết bị được đầu tư theo hướng chuyên sâu, phù hợp với yêu cầu từng tuyến điều trị. Tỷ lệ khoảng 19,2 giường bệnh/vạn dân. Số lần bệnh nhân đến khám bệnh tại các bệnh viện bình quân 1,5 lần/người dân, tăng nhiều so với các năm trước; trong đó bệnh nhân đến khám bệnh ở bệnh viện tuyến tỉnh trên 30%, giảm 12% so với năm 2009; tuyến huyện trên 63%, tăng gấp hai lần so với năm 2009. Tỷ lệ bệnh nhân nội trú có phẫu thuật chiếm gần 19% (bình quân cả nước khoảng 21%).

Rà soát lại hệ thống các cơ sở dạy nghề. Đã đình chỉ 08 cơ sở dạy nghề không đủ điều kiện, đồng thời phát triển 08 cơ sở dạy nghề mới, nâng tổng số 42 cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh. Số lao động được tuyển sinh học nghề đến đầu tháng 6/2010 trên 21.300 người, chiếm gần 60% kế hoạch năm 2010.

Xác nhận, giải quyết trợ cấp trên 7.900 trường hợp, trong đó có 1.100 trường hợp trợ cấp mới. Quyết định điều dưỡng trên 3.000 lượt, trong đó điều dưỡng tập trung gần 1.500 lượt. Đề nghị cấp bằng Tổ quốc ghi công cho 495 trường hợp. Triển khai kế hoạch hỗ trợ cải thiện 2.000 nhà ở cho người có công. 100% Bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống được các cơ quan, đơn vị trong tỉnh nhận phụng dưỡng. Cấp bổ sung trên 250 nghìn thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo. Trợ cấp ưu đãi đối với học sinh, sinh viên. Tổ chức khảo sát xây dựng đề án bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn giai đoạn 2010-2015. Duy trì 41 xã phường, trị trấn và xây dựng thêm 05 xã, phường, thị trấn lành mạnh, không có tệ nạn ma túy, mại dâm.

3. Công tác phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, 03 huyện nghèo của tỉnh và chương trình nông thôn mới tiếp tục được quan tâm, chỉ đạo thực hiện.

Tỉnh ủy đã tổ chức Hội nghị chuyên đề về phát triển kinh tế xã hội, giảm nghèo ở miền núi giai đoạn 2005-2010 và định hướng thời gian tới. Qua đó, các nguồn vốn chương trình mục tiêu ước trên 1.000 tỷ đồng được lồng ghép và triển khai có hiệu quả, góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội miền núi phát triển. Công tác hỗ trợ sản xuất, xoá nhà tạm cho đồng bào được toàn xã hội quan tâm, hưởng ứng.  Đã giải quyết đất sản xuất cho 430 hộ nghèo thiếu đất sản xuất, xóa nhà tạm hơn 17.000 hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo. Các mô hình về định canh định cư, quy hoạch sắp xếp dân cư gắn với hỗ trợ phát triển sản xuất, chăn nuôi từng bước phát huy hiệu quả.

Đã xoá xã trắng mẫu giáo; 100% các huyện miền núi đã hoàn thành xóa mù chữ; 100% người dân diện đặc biệt khó khăn được khám, chữa bệnh miễn phí; 100% xã có nhân viên y tế thôn, bản. Chất lượng nguồn nhân lực, số lượng cán bộ là người dân tộc thiểu số ngày càng được nâng cao, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tỷ lệ nghèo khu vực nông thôn miền núi giảm từ 52,17% năm 2005 xuống còn 45,13% năm 2009 và dự kiến xuống dưới 43% vào cuối năm 2010. Đặc biệt, kết quả bước đầu của công tác xuất khẩu lao động theo Nghị quyết 30a của Chính phủ đã có tác dụng tích cực trong công tác giải quyết việc làm, thay đổi tư duy, xây dựng ý thức vươn lên của đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh. Có 119 lao động thuộc 03 huyện nghèo được xuất khẩu, chiếm 83% số lao động xuất khẩu của tỉnh trong 6 tháng đầu năm.

Tổng số nhà trong diện hỗ trợ theo Quyết định 167 của Chính phủ là 1.345 nhà, đã hoàn thành 900 nhà, số còn lại dự kiến hoàn thành dứt điềm trong quí III năm 2010. Tổng công ty xi măng và Tổng công ty Hàng hải đã tích cực tham gia hỗ trợ giúp đỡ huyện nghèo về nhà ở cho nhân dân.

Đã hoàn thành công tác thanh quyết toán dự án 661 từ năm 1999 - 2008 và chuẩn bị tổng kết Dự án.

4. Công tác tài nguyên và  môi trường được quan tâm, tập trung đầu tư và tăng cường công tác kiểm tra xử lý các vi phạm.

Đã xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn kinh phí dự án Biến đổi khí hậu. Điều chỉnh kế hoạch hành động thích ứng với biến đổi khí hậu. Thúc đẩy tiến độ một số dự án ODA về môi trường ở những vùng quan trọng, trước hết là xử lý nước thải, rác thải khu vực đô thị Tam Kỳ, Hội An; khôi phục rừng và phát triển bền vững.

Rà soát đánh giá hiện trạng môi trường 5 năm (2006-2010). Phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020.

Qua 6 tháng đã kiểm tra ban hành 17 Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 10 đơn vị, trong đó có 08 đơn vị vi phạm về bảo vệ môi trường; 08 đơn vị về Khoáng sản, 01 đơn vị về nước với tổng số tiền xử phạt trên 200 triệu đồng và tịch thu nhiều tang vật khác.

5. Công tác nội chính, quốc phòng - an ninh được đảm bảo, đối ngoại được tăng cường. Tai nạn giao thông  vẫn còn ở mức cao.

Đã tổ chức thành công Hội nghị thường niên với đoàn đại biểu cấp cao tỉnh Sêkông của nước bạn Lào. Tổ chức khánh thành cột mốc đại 717 tại Cửa khẩu Nam Giang-Đắc Tà oọc. Xây dựng kế hoạch và tiếp tục triển khai thực hiện công tác cắm mốc năm 2010. Phối hợp tổ chức cuộc họp Quan chức cấp cao ASEAN, ASEAN + 3, Cấp cao Đông Á.

Xây dựng kế hoạch khu vực phòng thủ vững chắc giai đoạn 2010-2015 cấp tỉnh; kế hoạch xây dựng khu vực phòng thủ của các sở, ngành; công trình phòng thủ Sh02. Hoàn thành các kế hoạch phòng chống cháy nổ, tìm kiếm cứu nạn, cứu sập, phòng chống cháy rừng. Tổ chức thành lập và huấn luyện các phân đội cứu hộ, cứu nạn, cứu sập ở các cấp. Tuyển quân đợt 1 đạt 100% chỉ tiêu; tiếp tục thực hiện bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh.

Nguyễn Hưng

doannghiep.psd.gif
Dự án tăng cường năng lực
Hướng dẫn Đăng ký kinh doanh
Portal Quang Nam
logo quang cao 150[1].150.gif
Bài xem nhiều nhất

Giấy phép thiết lập Trang tin điện tử
Số 222/GP-BC do Cục báo chí (Bộ Văn hóa - Thông tin) cấp ngày 09/08/2006

Đơn vị thiết kế: QTI Powered by MOS
 
     Lượt truy cập thứ:332544  Có 9 khách đang online